Gốm Đất Việt
Vinaconex

Nhìn lại một năm sôi động, đổi mới và trách nhiệm của Quốc hội

31/12/2019 05:02 AM

Năm 2019, Quốc hội đã tập trung cao độ trí tuệ, sức lực cho từng nội dung, từng vấn đề của chương trình làm việc; tiếp tục đổi mới phương pháp làm việc và đề cao trách nhiệm trước cử tri, nhân dân cả nước. Kết thúc một năm hoạt động, Quốc hội đã thông qua 18 luật, bộ luật, cho ý kiến 19 dự án luật; quyết định những vấn đề trọng đại của đất nước bằng 27 nghị quyết đã được thông qua; giám sát tối cao 2 chuyên đề “nóng bỏng”, giám sát bằng hình thức xem xét báo cáo các vấn đề kinh tế - xã hội do Chính phủ trình bày và nhiều báo cáo khác; tiến hành chất vấn 8 nhóm vấn đề nổi cộm, bức xúc và công tác nhân sự cùng một số công tác khác. Có thể nói rằng “bức tranh toàn cảnh” về hoạt động của Quốc hội trong năm nay có rất nhiều gam màu sáng, sinh động và hiệu quả.

 Tranh luận đến cùng để thông qua nhiều luật khó, phức tạp

Có thể độ khó, độ dài, độ phức tạp khác nhau, khó so sánh nhưng nhìn chung công tác xây dựng luật của Quốc hội vẫn tiếp tục tăng tốc. Nếu như  năm 2018, Quốc hội mới thông qua được 16 luật, cho ý kiến 15 dự án luật thì năm 2019 đã thông qua tăng thêm 2 luật và cho ý kiến tăng thêm 4 dự án luật. Xét về độ khó, độ phức tạp thì trong các luật được thông qua năm 2019 cũng có nhiều luật “hóc búa”, phải tranh luận “tới số” mới đi đến thống nhất như Bộ luật Lao động (sửa đổi); Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Cán bộ, công chức và Luật Viên chức; Luật Phòng, chống tác hại của rượu, bia...

Có thể lấy Bộ luật Lao động làm ví dụ. Đây là Bộ luật sửa đổi Bộ luật năm 2012, do đó có yêu cầu rất cao, rất phức tạp. Bộ luật mới, vừa phải cụ thể hóa quyền con người trong lao động nói riêng, quyền an sinh xã hội nói chung theo Hiến pháp năm 2013; vừa phải phù hợp với Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) mà Việt Nam vừa phê chuẩn; lại phải “đón đầu”  Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), trong đó phải bảo đảm các nguyên tắc và quyền cơ bản của người lao động trong lao động phù hợp với 8 Công ước của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO). Bộ luật lại phải bảo đảm thuận lợi hơn cho cả người lao động và người sử dụng lao động...

Kết quả là Bộ luật Lao động (sửa đổi) năm 2019 đã cơ bản đáp ứng tất cả các yêu cầu đó. Chỉ nói riêng đối với người lao động và người sử dụng lao động thì đã được đáp ứng với mức độ cao về lợi ích. Đối với người lao động có đến 10 nhóm nội dung có lợi ích cao hơn. Ví dụ, người làm việc không có quan hệ lao động, nay được áp dụng một số tiêu chuẩn lao động như người làm việc có quan hệ lao động; quy định về hợp đồng lao động theo hướng bảo vệ người lao động chắc chắn hơn; bổ sung một ngày nghỉ được hưởng nguyên lương, bổ sung trường hợp người lao động được nghỉ việc riêng mà vẫn được hưởng nguyên lương; điều chỉnh tuổi nghỉ hưu theo lộ trình nhằm ứng phó với quá trình già hóa dân số nhanh, đáp ứng nhu cầu thị trường lao động; nhiều tiện ích đối với lao động nữ, trong đó có trường hợp hợp đồng lao động hết hạn trong thời gian lao động nữ mang thai hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì được ưu tiên giao kết hợp đồng lao động mới; người lao động tại doanh nghiệp không thuộc tổ chức Công đoàn Việt Nam có quyền thành lập tổ chức đại diện khác nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động tại doanh nghiệp phù hợp với các Công ước về lao động của ILO và các cam kết quốc tế khác...

Đối với người sử dụng lao động cũng có tới 6 nhóm vấn đề có lợi hơn. Ví dụ, luật hóa vai trò đại diện bảo vệ quyền lợi, lợi ích hợp pháp và tham gia xây dựng quan hệ lao động tiến bộ, hài hòa và ổn định của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, của Liên minh Hợp tác xã Việt Nam và các tổ chức đại diện khác của người sử dụng lao động; mở rộng quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động; người sử dụng lao động được quyền ký kết nhiều lần hợp đồng lao động xác định thời hạn đối với lao động cao tuổi và lao động là người nước ngoài; Nhà nước không can thiệp trực tiếp vào chính sách tiền lương của doanh nghiệp, tiền lương được thực hiện trên cơ sở thương lượng, thỏa thuận giữa các bên; doanh nghiệp được chủ động xây dựng thang lương, bảng lương và định mức lao động; quy định linh hoạt về đăng ký nội quy lao động bằng việc có thể ủy quyền cho cơ quan chuyên môn về lao động thuộc Ủy ban Nhân dân cấp huyện...

Quốc hội biểu quyết thông qua Bộ luật Lao động (sửa đổi) sáng ngày 20.11

Ảnh: Quang Khánh


Những dấu ấn trong hoạt động giám sát

Trong hai kỳ họp, Quốc hội đã sử dụng phổ biến 3 hình thức giám sát cơ bản, đó là xem xét báo cáo của Chính phủ, báo cáo của các cơ quan tư pháp; giám sát chuyên đề; chất vấn và trả lời chất vấn.

Giám sát bằng hình thức xem xét báo cáo, có thể coi việc thảo luận báo cáo kinh tế - xã hội của Chính phủ là trọng tâm. Đây là 2 kỳ thảo luận trong năm đạt “kỷ lục” cao về số lượt đại biểu phát biểu (với thời lượng cả 2 kỳ chỉ có 3,5 ngày nhưng đã có tới 187 ý kiến phát biểu và 15 ý kiến tranh luận, Phó Thủ tướng và 11 Bộ trưởng tham gia giải trình). Đa phần các ý kiến có chiều sâu lay động lòng người. Có khoảng 50 ý kiến trực tiếp hoặc gián tiếp “mổ xẻ” GDP và tốc độ tăng trưởng. Nhiều đại biểu đã nói, số lượng và tốc độ tăng trưởng là khá lớn, nhưng trong cơ cấu GDP tính theo phương pháp tổng chi tiêu thì hai khoản đầu tư xã hội và chi tiêu của Nhà nước là có vấn đề về hiệu quả. Có thể nói trong tổng đầu tư, một lượng vốn thất thoát, lãng phí rất lớn, đặc biệt là các công trình giao thông (các đoạn đường cao tốc Đà Nẵng - Quảng Ngãi, Quảng Ngãi - Bình Định... khánh thành xong thì hư hỏng, sụt lún, phải đầu tư sửa chữa ngay), nhiều công trình xây dựng khác cũng tương tự. Tất cả những thiệt hại đó đều tính vào GDP. Vì thế có đại biểu phát biểu như một lời cảnh báo, chớ vội mừng GDP khối lượng lớn, tăng trưởng cao. Trong kết thúc giám sát (thảo luận), Chủ tọa phiên họp cũng đã nhấn mạnh rằng, chúng ta phấn khởi về tốc độ tăng trưởng, nhưng phải đặc biệt lưu ý tới chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng.

Một vấn đề khác lâu nay đã nhận thức được là đặc biệt nghiêm trọng, nhưng ý kiến còn phân tán thì nay các ý kiến có “độ chụm” rất cao, đó là ô nhiễm môi trường. Chỉ riêng phiên thảo luận ngày 30.10 đã có đến 20 ý kiến phân tích khá sâu sắc hiện trạng bằng những thuật ngữ khá đặc trưng: Những dòng sông chết, biển rác dập dềnh, không khí đặc quánh bụi, đất trộn hóa chất... Đi đôi với biểu dương thành tích thì các đại biểu cũng không khoan nhượng với những khiếm khuyết tồn tại. Từ đó rút ra được những kết luận thực tiễn “đắt giá”, có chiều sâu. Nếu các vấn đề kinh tế và xã hội phải đi song song, lồng quyện với nhau trong từng chính sách, trong từng bước phát triển thì kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường phải gắn chặt với nhau trong từng dự án, trong từng thời gian, trong từng bước phát triển trên phạm vi cả nước; nhất thiết không đánh đổi môi trường lấy kinh tế.

Giám sát bằng hình thức chất vấn và trả lời chất vấn, tại Kỳ họp thứ Bảy, Quốc hội đã lựa chọn 4 nhóm chuyên đề thuộc các lĩnh vực Quốc phòng và An ninh, Xây dựng, Giao thông vận tải, Văn hóa, Thể thao và Du lịch và có tới 202 chất vấn và 35 tranh luận. Tại Kỳ họp thứ Tám, Quốc hội lựa chọn 4 nhóm vấn đề khác thuộc các lĩnh vực Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Công thương, Nội vụ, Thông tin và Truyền thông và có tới 221 chất vấn (có 20 chất vấn dành cho Thủ tướng Chính phủ trả lời) và 51 tranh luận. Ở cả hai kỳ chất vấn, vẫn những nhóm vấn đề nghe quen tai, nhưng các thông tin thì rất mới và hàm lượng thông tin thì vô cùng phong phú, đậm đặc.

Sự thành công khá mỹ mãn của các phiên chất vấn và trả lời chất vấn bắt nguồn từ sự nghiêm túc và đầy tinh thần trách nhiệm của cả hai phía (người chất vấn và người trả lời chất vấn). Có thể nói, các đại biểu Quốc hội đã chuyển tải được cơ bản các ý kiến, kiến nghị của cử tri trong cả nước tới Quốc hội và các cơ quan hữu trách. Tuyệt đại bộ phận các câu chất vấn có tính thời sự nóng bỏng, thiết thực. Ví dụ như: Có nơi đạt chuẩn nông thôn mới nhưng sao lại nợ xây dựng cơ bản lớn thế; xây dựng các nhà máy nhiệt điện để bảo đảm nhu cầu điện năng, nhưng xử lý ô nhiễm môi trường ra sao; các chứng chỉ tin học, ngoại ngữ thiết thực gì trong thi nâng ngạch, thi chuyên viên ở vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa... Các Bộ trưởng, nhìn chung, đã quán xuyến, bao quát được cả bề rộng và nhiều vấn đề có chiều sâu trong phạm vi quản lý của bộ mình nên trả lời khá mạch lạc, thẳng thắn nhận trách nhiệm về các thiếu sót, khuyết điểm. Cuối phiên chất vấn ngày 8.11, khi giải trình và trả lời chất vấn trước Quốc hội, việc đầu tiên mà Thủ tướng Chính phủ nhấn đậm đó là ý chí và trách nhiệm. Thủ tướng nói, “Thách thức lớn nhất của chúng ta hiện nay không phải là thoát bẫy thu nhập trung bình. Nguy cơ lớn nhất không phải là tụt hậu kinh tế. Mà thách thức lớn nhất của chúng ta chính là thiếu ý chí mạnh mẽ vươn lên và nguy cơ lớn nhất là không hành động vì sợ trách nhiệm”. Khi kết thúc, chủ tọa phiên chất vấn đã sử dụng các thuật ngữ mạnh, sát với thực tế để đánh giá: Các câu chất vấn của đại biểu ngắn, gọn, sắc sảo, trí tuệ. Các Bộ trưởng trả lời nghiêm túc, trách nhiệm, chân thành, không né tránh. Các phiên chất vấn từng bước làm hài lòng cử tri. Kết quả các phiên chất vấn cho thấy, việc lựa chọn các nhóm vấn đề là đúng đắn. Dù còn một số nội dung cần được tiếp tục phân tích, làm sáng tỏ, tìm giải pháp hữu hiệu để khắc phục, nhưng Quốc hội hoàn toàn chia sẻ với Chính phủ những khó khăn trong nhiều công việc và những bất cập trong quản lý, điều hành...

Ban hành nhiều nghị quyết có ý nghĩa trọng đại

Năm 2019 số nghị quyết được Quốc hội ban hành lên tới 27 nghị quyết, tăng gấp rưỡi so với năm 2018. Nghị quyết nào cũng mang ý nghĩa trọng đại: Nghị quyết về thí điểm tổ chức mô hình chính quyền đô thị tại thành phố Hà Nội, là nhằm  hoàn thiện mô hình tổ chức chính quyền ở các đô thị lớn phù hợp với yêu cầu tổ chức lại bộ máy cho gọn nhẹ, hiệu lực và hiệu quả hơn. Nghị quyết phê chuẩn việc Gia nhập Công ước số 98 của Tổ chức Lao động quốc tế về áp dụng những nguyên tắc của quyền tổ chức và thương lượng tập thể (trong quan hệ lao động). Việc gia nhập Công ước này có ý nghĩa nhiều mặt chính trị, pháp lý, kinh tế, xã hội trong bối cảnh tăng cường hội nhập quốc tế, thực thi cam kết của Hiệp định CPTPP...

Một Nghị quyết không chỉ dư luận trong nước mà cả quốc tế cũng đánh giá cao là Nghị quyết số 88/2019/QH14 ngày 18.11.2019 về Phê duyệt đề án tổng thể phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030. Nghị quyết thể hiện mục tiêu, quan điểm đúng đắn, nhất quán trước sau như một của Đảng và Nhà nước ta, đầu tư cho phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi là đầu tư cho phát triển bền vững đất nước, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân; thu hẹp dần khoảng cách về mức sống, thu nhập của đồng bào dân tộc thiểu số so với bình quân chung của cả nước. Từ mục tiêu, quan điểm - định hướng chung, Nghị quyết đã xác định những chỉ tiêu cụ thể phải đạt được trong 10 năm tới: Đến 2025 thu nhập bình quân đầu người của dân tộc thiểu số tăng trên 2 lần so với năm 2020; đến năm 2030 bằng 1/2 mức bình quân chung của cả nước; giảm hộ nghèo xuống còn 10% (hiện nay là 52,27%), cơ bản không còn xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn, 70% số  xã đạt chuẩn nông thôn mới...

Một năm hoạt động tích cực, sôi nổi, đổi mới của Quốc hội đã đem lại kết quả tốt đẹp. Các đại biểu đã làm việc tận tụy, nghiêm túc và đầy trách nhiệm trước cử tri. Lãnh đạo Quốc hội điều hành khoa học, linh hoạt, nhạy bén, kiên quyết và hiệu quả. Các cơ quan phục vụ đã tận tình trong tham mưu, giúp việc và bảo đảm đầy đủ điều kiện vật chất và tinh thần cho mỗi kỳ họp.

 
Theo báo Đại biểu Nhân dân

tag

Bình luận

code

Các tin khác

Thời tiết

Hôm nay
Ngày mai

Scroll